Thứ Năm, Tuần XII Thường Niên

“Con là Đá, trên đá này Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy,
và cửa địa ngục sẽ không thắng được”.
(Mt 16, 18)

BÀI ĐỌC I: Cv 12, 1-11
“Bây giờ tôi biết thật Chúa đã cứu tôi khỏi tay Hêrôđê”.

Bài trích sách Tông đồ Công vụ

Trong những ngày ấy, vua Hêrôđê làm khổ mấy người trong Hội thánh. Ông đã dùng gươm giết Giacôbê anh của Gioan. Ông thấy việc ấy đẹp lòng người Do-thái, nên lại cho bắt cả Phêrô.

Bấy giờ là ngày lễ Bánh Không Men. Bắt được người, vua cho tống ngục, giao cho bốn đội binh, mỗi đội bốn người canh giữ, có ý đợi sau lễ Vượt Qua, sẽ điệu người ra cho dân. Phêrô bị giam trong ngục, nhưng Hội thánh vẫn luôn luôn cầu nguyện cùng Chúa cho người.

Đến khi vua Hêrôđê sắp điệu người ra, thì đêm ấy, Phêrô phải mang xiềng xích, nằm ngủ giữa hai tên lính, và có quân canh giữ trước cửa ngục. Bỗng có thiên thần Chúa đứng kề bên, một luồng ánh sáng chiếu giãi vào ngục; thiên thần đập vào cạnh sườn Phêrô, đánh thức người dậy mà rằng: “Hãy chỗi dậy mau”. Xiềng xích liền rơi khỏi tay người.

Thiên thần bảo người rằng: “Hãy thắt lưng và mang giày vào”. Người làm y như vậy. Thiên thần lại bảo rằng: “Hãy khoác áo vào mà theo ta”. Người liền đi ra theo thiên thần, mà chẳng biết việc thiên thần làm có thật chăng, người tưởng như trong giấc mộng. Qua khỏi chặng thứ nhất và chặng thứ hai, thì đến cửa sắt thông ra thành. Cửa ấy tự nhiên mở ra. Thiên thần và Phêrô rảo qua một phố nọ, rồi thiên thần biến đi.

Phêrô hoàn hồn và nói rằng: “Bây giờ tôi biết thật Chúa đã sai thiên thần cứu tôi khỏi tay Hêrôđê và khỏi mọi âm mưu của dân Do-thái”.

BÀI ĐỌC II: 2 Tm 4, 6-8. 17-18
“Từ đây triều thiên công chính đã dành cho cha”.

Bài trích thư thứ hai của Thánh Phaolô Tông đồ gửi Timôthêu

Con thân mến, phần cha, cha đã già yếu, giờ ra đi của cha đã gần rồi. Cha đã chiến đấu trong trận chiến chính nghĩa, đã chạy đến cùng đường và đã giữ vững đức tin. Từ đây triều thiên công chính đã dành cho cha.

Và trong ngày đó, Chúa là Đấng phán xét chí công sẽ trao lại cho cha mũ triều thiên ấy, nhưng không phải cho cha mà thôi, mà còn cho những kẻ yêu mến trông đợi Người xuất hiện.

Nhưng có Chúa phù hộ giúp sức cho cha, để nhờ cha, việc giảng đạo nên trọn, và tất cả Dân Ngoại được nghe giảng dạy: và cha đã thoát được khỏi miệng sư tử. Nguyện cho Người được vinh quang muôn đời. Amen.

TIN MỪNG: Mt 16, 13-19
13 Khi ấy, Chúa Giêsu đến địa hạt thành Cêsarêa Philipphê, và hỏi các môn đệ rằng: “Người ta bảo Con Người là ai ?”
14 Các ông thưa: “Người thì bảo là Gioan Tẩy Giả, kẻ thì bảo là Êlia, kẻ khác lại bảo là Giêrêmia hay một tiên tri nào đó”.
15 Chúa Giêsu nói với các ông: “Phần các con, các con bảo Thầy là ai ?” 16 Simon Phêrô thưa rằng: “Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống”.
17 Chúa Giêsu trả lời rằng: “Hỡi Simon con ông Giona, con có phúc, vì chẳng phải xác thịt hay máu huyết mạc khải cho con, nhưng là Cha Thầy, Đấng ngự trên trời.
18 Vậy Thầy bảo cho con biết: Con là Đá, trên đá này Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy, và cửa địa ngục sẽ không thắng được.
19 Thầy sẽ trao cho con chìa khoá nước trời. Sự gì con cầm buộc dưới đất, trên trời cũng cầm buộc; và sự gì con cởi mở dưới đất, trên trời cũng cởi mở”.

SUY NIỆM
A/ 5 phút với Lời Chúa

HIỆP NHẤT XÂY DỰNG HỘI THÁNH

Đức Giê-su nói: “Anh là Phê-rô, nghĩa là Tảng Đá, trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy, và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi.” (Mt 16,18)

Suy niệm: Phê-rô và Phao-lô là hai tông đồ khác nhau như nước với lửa: Phê-rô là dân đánh cá ít học, Phao-lô thuộc tầng lớp trí thức; Phê-rô theo Chúa ngay từ đầu, còn Phao-lô là ‘đứa con đẻ non’ (1Cr 15,8) được ơn trở lại sau khi Chúa lên trời; Phê-rô gắn bó với Ki-tô hữu gốc Do Thái, còn Phao-lô rao giảng cho dân ngoại.
Khác nhau về gốc gác, về quan điểm truyền giáo, thế nhưng, trong Đức Giê-su, cùng với Đức Giê-su và vì Đức Giê-su, Đấng cả hai quý mến hơn mọi sự trên đời, Phê-rô và Phao-lô hiệp nhất cùng xây dựng một Hội Thánh duy nhất của Đức Giê-su bằng lòng nhiệt thành hăng say rao giảng, bất chấp đòn vọt, tù đày (Phê-rô), “Khốn cho tôi nếu tôi không rao giảng Tin Mừng” (1Cr 9,16). Hai vị còn giống nhau trong cái chết hy sinh mạng sống cho Đấng mình yêu: Phê-rô bị đóng đinh ngược đầu xuống đất, Phao-lô bị chém đầu.

Mời Bạn: Nhớ rằng Hội thánh mừng chung hai vị Tông đồ trong một ngày lễ chính là để nêu cao tinh thần hiệp nhất trong công cuộc xây dựng Hội thánh. Bạn có quyết gạt bỏ những bất đồng, ý riêng, để cùng hiệp nhất xây dựng gia đình, cộng đoàn, giáo xứ, đoàn thể… không ?

Sống Lời Chúa: Noi gương hai thánh Phê-rô và Phao-lô, tôi sẽ dẹp bỏ những tị hiềm, gạt bỏ những bất đồng với các thành viên khác, để xây dựng gia đình, cộng đoàn, giáo xứ… tốt đẹp hơn.

Cầu nguyện: Cầu nguyện theo ý Đức Giáo hoàng; hát: “Này con là Đá trên viên đá này Cha xây Giáo hội muôn đời kiên vững. Này con là Đá, cho muôn sức hùng Satan vẫy vùng không hề chuyển rung.”

B/ Phó Tế Lasan Ngô Văn Vỹ, O.Cist

HAI CON NGƯỜI – HAI CÁCH LÀM CHỨNG

Hợp hoan cùng toàn thể Hội thánh chúng ta long trọng mừng kính hai thánh Tông đồ Phêrô và Phaolô, hai cột trụ nâng đỡ Hội thánh Chúa Kitô, qua muôn thế hệ.

Khi chiêm ngắm hai vị thánh lừng danh này, chúng ta thấy các ngài có nhiều điểm khác biệt nhau:

– Phêrô là dân chài, trực tính và thực tiễn; còn Phaolô là người trí thức hay lý luận và tinh tế

– Phêrô là vị tông đồ Chúa kêu gọi đầu tiên; còn Phaolô là vị tông đồ thứ 13

– Phêrô ra sức loan báo Tin mừng cho người Do Thái; còn Phaolô nhiệt thành loan báo Tin mừng cho dân ngoại…

Trong thư Galat thánh Phaolô không ngại kể lại vài cuộc tranh luận gay go, do bất đồng quan điểm giữa hai vị (x. Gl 2,2tt).

Dẫu vậy, hai con người với hai tính cách và hai lối rao giảng khác biệt ấy, lại có cùng một lòng mến yêu Chúa tha thiết, biểu lộ ra theo cách thức Chúa muốn. Đúng như lời Kinh Tiền Tụng trong thánh lễ hôm nay, Hội thánh tạ ơn Chúa Cha vì: “Hôm nay, Cha cho chúng con được vui mừng trong ngày lễ trọng kính hai thánh Tông Đồ: Phêrô và Phaolô. Cha đã sắp đặt để Thánh Phêrô là người đầu tiên tuyên xưng đức tin, Thánh Phaolô là người làm sáng tỏ đức tin. Thánh Phêrô thiết lập Hội Thánh tiên khởi cho người Ítraen, Thánh Phaolô là thầy giảng dạy muôn dân. Như vậy, các ngài đã dùng đường lối khác biệt để quy tụ một gia đình duy nhất cho Đức Kitô, nên các ngài đáng được thế giới ngưỡng mộ và được lãnh nhận cùng một triều thiên vinh quang…”

Thật vậy, chính do lòng mến Chúa tha thiết đã thúc bách các ngài dám từ bỏ cái tôi của mình để toàn tâm làm vinh danh Chúa; làm cho mọi người kính mến Chúa. Động lực đó đã giúp các ngài biến những khác biệt thành lợi khí mở rộng nước Chúa. Những khác biệt của các ngài chẳng những không loại trừ nhau mà còn bổ túc cho nhau, làm cho nền móng của Hội thánh được vững bền.

Thánh Phêrô là giáo hoàng, nhưng không vì thế mà áp đặt ý kiến của mình. Thánh Phaolô là giám mục, nhưng không vì thế mà không thẳng thắn trình bày quan điểm của mình để trao đổi tìm ra ý Chúa. Các ngài đã bắt tay nhau để tỏ dấu hiệp thông, đồng lòng mở rộng Nước Chúa. Các ngài đã trung thành loan báo Tin mừng chẳng quản ngại những gian truân thử thách: đói rét, gông cùm, tù tội mà hân hoan hiến mạng vì yêu mến Chúa (x. Cv 5,40; 2Cr 11,23-28).

Lòng mến Chúa nơi thánh Phêrô và thánh Phaolô hẳn khơi lên trong chúng ta một câu hỏi quan trọng: Tôi đã tỏ lòng mến Chúa như thế nào giữa thế giới hôm nay? Hẳn nhiên, lòng mến Chúa sẽ được biểu lộ qua đời sống cầu nguyện cá nhân cũng như cộng đoàn. Đặc biệt lòng mến Chúa được bộc lộ rõ nhất trong tương quan với tha nhân: yêu thương, tha thứ, nâng đỡ, ủi an mọi người nhất là những người đau khổ bị bỏ rơi loại trừ.

Lý tưởng tốt đẹp đó chúng ta không thể thành toàn được nếu không nhờ ơn Chúa trợ giúp. Bởi vậy, xin Chúa cho chúng ta có lòng khiêm nhường như thánh Phêrô và thánh Phaolô, để rồi chính Chúa sẽ biến đổi chúng ta nên ân phúc cho mọi người. Chính lòng khiêm tốn chân nhận những nỗi yếu hèn nơi bản thân và luôn tín thác vào Chúa mà Chúa đã biến các ngài từ những con người chối Chúa, bách hại Đạo, trở thành lợi khí của tình yêu.

Mừng lễ thánh Phêrô và Phaolô cho chúng ta thêm tin tưởng, an lòng và hy vọng tiến bước. Vì dù cho chúng ta có xuất thân từ giai cấp nào, quá khứ có như thế nào, nhưng chỉ cần một tấm lòng khiêm nhường thống hối, tin cậy nơi Chúa, thì chính Chúa sẽ biến đổi chúng ta trở nên tinh tuyền thánh thiện như đã biến đổi cuộc đời thánh Phêrô và Phaolô.

C/ Lm. Giuse Đinh Lập Liễm

THÁNH PHÊRÔ VÀ THÁNH PHAOLÔ TÔNG ĐỒ

Sau một thời gian giảng dạy và làm nhiều phép lạ, Đức Giêsu muốn biết người ta nghĩ sao về mình và Ngài cũng muốn hỏi các Tông đồ nghĩ sao về Ngài.

Dân chúng biết mù mờ về Đức Giêsu bởi họ không chú ý đến giáo huấn của Ngài. Lúc này đã gần đến giờ của Đức Giêsu, giờ Ngài sắp bước vào cuộc Thương khó – đỉnh cao của chương trình cứu chuộc nhân loại. Ngài muốn các môn đệ xác tín lập trường của mình, để các ông can đảm theo Ngài. Chúng ta cũng không thể biết Đức Giêsu là ai, nếu chúng ta không quan tâm học hỏi và khám phá. Không biết Đức Giêsu là một thiệt thòi lớn lao. Vì chỉ khi biết Đức Giêsu, chúng ta mới đạt được nguồn bình an và hạnh phúc vĩnh cửu.

Có nhiều câu trả lời về Chúa Giêsu: người thì bảo là Êlia, kẻ khác lại bảo là Giêrêmia hay một tiên tri nào đó. Mọi câu trả lời đều nói lên phần nào sứ mệnh của Chúa, nhưng chưa đúng hẳn, tức là dân chúng chỉ coi Chúa Giêsu là một tiên tri, tức là một người được Thiên Chúa sai đến để dọn đường cho Đấng Thiên Sai, chứ chưa phải là Đấng Thiên Sai. Vì thế, chỉ với câu trả lời của ông Phêrô: “Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống”, Chúa Giêsu mới hoàn toàn bằng lòng, tức là ông Phêrô tuyên xưng Chúa là Đấng Thiên Sai. Quả thực, tin nhận Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa hằng sống là diễn tả được cả sứ mạng lẫn con người của Ngài.

Lời đáp trả của Phêrô quả là một lời tuyên xưng: “Ngài là Đức Kitô” tức là Đấng Thiên Chúa sai đến để giải phóng dân tộc. Tuy nhiên chúng ta thấy, trong cái nhìn của Phêrô và phù hợp với giấc mơ chung của các ông, thì Đức Kitô mà các ông mong đợi là Đấng sẽ đánh đuổi ngoại xâm và biến đất nước thành một vương quốc cường thịnh.

Chính vì thế, khi Chúa Giêsu loan báo về cuộc khổ nạn Ngài phải trải qua, Phêrô đã can gián Ngài. Tuyên xưng một Đức Kitô Cứu Thế mà không chấp nhận con đường thập giá, Chúa Giêsu gọi đó là thái độ của Satan. Ba cám dỗ của Satan đối với Chúa Giêsu đều qui về một mối là khước từ con đường Thập giá. Do đó, khi Phêrô can gián Ngài từ bỏ ý định cứu rỗi bằng con đường Thập giá, Ngài đã gọi Phêrô là Satan.

Phêrô tuyên xưng Đức Giêsu là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống và được Ngài khen là người có phúc. Tuy nhiên, ông không thể chấp nhận Đấng Kitô phải chịu đau khổ và chịu chết như thế được. Cũng như bao người Do thái khác, Phêrô mong đợi một Đấng Kitô như là một vị vua trần thế nắm quyền lực chính trị, giải phóng Israel khỏi ách thống trị Rôma, làm bá chủ thế giới. Nhưng đường lối của Chúa thì khác, con đường hiến thân phục vụ: “Con người đến không phải để được phục vụ, nhưng để phục vụ và hiến mạng sống làm giá cứu chuộc muôn người” (Mc 10, 45) (5 phút Lời Chúa).

Phêrô và các môn đệ chỉ hiểu được sứ mệnh của Chúa Giêsu khi Ngài từ trong kẻ chết sống lại. Đấng Kitô là một danh hiệu gắn liền với Thập giá. Mang danh hiệu Kitô, tuyên xưng Đức Kitô cũng có nghĩa là chấp nhận đi theo con đường của Ngài. Phêrô và các môn đệ đã sống đến tận cùng lời tuyên xưng của các ông. Tất cả đều lặp lại cái chết khổ hình của Đức Kitô.

Chúng ta ghi dấu Thánh giá trên người chúng ta, chúng ta mang thánh giá trong người chúng ta, đó không là dấu hiệu của sự chết, nhưng là biểu dương của một sức sống của Đấng đã chết, đã phục sinh và đang tác động trong chúng ta. Nói như thánh Phaolô: “Tôi sống, nhưng không phải tôi sống, mà là chính Chúa Kitô sống trong tôi”. Chúa Kitô sống trong chúng ta để tiếp tục và hoàn tất chương trình cứu rỗi loài người. Chúa Kitô đã vác Thập giá và đã chết một lần, cuộc Tử nạn ấy cần phải được tiếp tục qua các Kitô hữu. Cũng chính thánh Phaolô đã nói: “Tôi cần phải bổ khuyết những gì còn thiếu sót trong cuộc tử nạn của Chúa Kitô” (Mỗi ngày một tin vui).

TruyệnÝ nghĩa của một bức tượng

Nhà điêu khắc Dannecker người Đức, đã để nhiều công khó trong công tác tạc một bức tượng của Chúa Giêsu bằng cẩm thạch. Trong hai năm đầu, bức tượng đã xong, nhà điêu khắc mời một em bé vào phòng vẽ của mình và hỏi em bé rằng:

– Ai đó?

Em bé tức khắc trả lời:

– Một vĩ nhân.

Nhà điêu khắc buồn và nghĩ rằng, công khó của mình trong hai năm kể như đã hỏng. Ông tiếp tục tạc lại trong sáu năm nữa và mời một em bé khác vào phòng vẽ và hỏi:

– Em biết bức tượng này là ai không?

Sau khi nhìn bức tượng một lúc, yên lặng và nước mắt tràn ra đôi mi, em khẽ nói:

– Hỡi những con trẻ đau khổ hãy đến cùng ta!

Nhà điêu khắc thoả mãn, thành công về tác phẩm của mình. Nhà điêu khắc Dannecker sau đó đã tuyên bố:

– Tôi đã thấy Chúa Cứu Thế Giêsu và hình ảnh của Ngài đã thể hiện trong khi tôi tạc bức tượng Ngài bằng cẩm thạch này.

Sau đó ít lâu, hoàng đế Napoléon Bonaparte yêu cầu nhà điêu khắc tạc cho hoàng đế bức tượng nữ thần Vệ Nữ để trưng bày trong viện bảo tàng Louvre, Paris. Hoàng đế hứa sẽ trả cho ông một món tiền rất lớn, nhưng Dannecker từ chối. Ông nói rằng: “Một người đã thấy Đấng Kitô và đã tạc vẽ mặt của Ngài rồi, thì không thể dùng nghệ thuật của mình vào những việc ở đời này được nữa, bởi vì làm như thế là tục hoá nghệ thuật của mình mất rồi”.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

This site uses cookies to offer you a better browsing experience. By browsing this website, you agree to our use of cookies.